Mức thuế suất thuế GTGT đối với hàng hoá có điểm giao nhận ngoài Việt Nam

Mọi người ơi bên mình chuẩn bị ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, với nội dung chi tiết giao dịch như dưới đây. Tuy nhiên, có một số điểm về mức thuế suất, chúng tôi vẫn chưa rõ, mong được mọi người giải đáp giúp:

Trường hợp cụ thể như sau:

- Công ty chúng tôi (A) mua phao bè cứu sinh của công ty (B), (Công ty B có trụ sở và đăng ký kinh doanh tại Việt Nam). Hợp đồng có điều khoản giao hàng và hồ sơ giao hàng tại nước ngoài.
- Công ty (B) mua phao bè cứu sinh của Công ty (C). Công ty (C) giao hàng cho (B) tại nước ngoài (Công ty C có trụ sở và đăng ký kinh doanh tại nước ngoài).
- Công ty chúng tôi (A) ký hợp đồng bán phao bè cứu sinh cho Công ty (D), (Công ty D có trụ sở chính tại Việt Nam và đăng ký kinh doanh tại Việt Nam).
- Mặt hàng phao bè cứu sinh được công ty chúng tôi (A) mua của Công ty (B) không nhập về Việt Nam mà bán lại cho Công ty (D) điều khoản giao hàng cho Công ty (B) tại nước ngoài - CPT Hamad Port, Qatar (Incoterms 2010).

Vậy trong trường hợp trên thì mức thuế suất (thuế GTGT đầu vào và đầu ra) cho các trường hợp sau như nào:
1. Công ty (B) xuất hóa đơn bán hàng cho Công ty (A) chúng tôi thuộc nhóm thuế suất nào?
2. Công ty chúng tôi bán hàng phao bè cứu sinh cho Công ty (D) và giao hàng tại nước ngoài thuộc nhóm thuế suất nào?
3. Chứng từ bán giao hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam cho Công ty (D) không thông qua nhập khẩu để đủ điều kiện hạch toán vào doanh thu bán hàng bao gồm những chứng từ gì ? và hoá đơn bán hàng bên mình sử dụng là hoá đơn nào ?

Cục thuế trả lời

Theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định thuế suất thuế GTGT 0% đối với hàng hóa bán mà điểm giao, nhận hàng hoá ở ngoài Việt Nam, cơ sở kinh doanh (bên bán) phải có tài liệu chứng minh việc giao, nhận hàng hóa ở ngoài Việt Nam như:
- Hợp đồng mua hàng hóa ký với bên bán hàng hoá ở nước ngoài;
- Hợp đồng bán hàng hoá ký với bên mua hàng;
- Chứng từ chứng minh hàng hóa được giao, nhận ở ngoài Việt Nam như: hóa đơn thương mại theo thông lệ quốc tế, vận đơn, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận xuất xứ…;
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng gồm: chứng từ qua ngân hàng của cơ sở kinh doanh thanh toán cho bên bán hàng hóa ở nước ngoài;
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng của bên mua hàng hóa thanh toán cho cơ sở kinh doanh.
Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty B mua hàng hóa của Công ty A tại Việt Nam sau đó bán hàng hóa cho Công ty D tại Việt Nam nhưng điểm giao nhận hàng hóa đều ở nước ngoài thì Công ty B không đủ điều kiện áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% theo quy định trên.
Nếu Công ty còn vướng mắc, đề nghị Công ty có văn bản kèm Hợp đồng mua hàng hóa của Công ty tại Việt Nam và Hợp đồng bán hàng hóa tại Nước ngoài gửi cơ quan quản lý thuế trực tiếp Công ty.
Trân trọng kính chào./.
Mình cảm ơn !
 

Những bài viết được đọc nhiều nhất

TruongNguyen

♥♥♥ ATC ♥♥♥
Thành viên BQT
Trường hợp này của bạn không có gì là khó hiểu:
- Cty A mua hàng của Cty B ( 2 Công ty này đều có trụ sở và kinh doanh tại Việt nam) -> Công ty B xuất hàng bán cho bạn khi bên B chưa làm thủ tục nhập khẩu (tờ khai và đóng thuế GTGT hàng NK).
- Đừng quan tâm đến Công ty C vì Công ty B mới phải quan tâm.
- Cty A bán cho công ty D. Hàng hóa sử dụng và tiêu dùng tại VN thì Cty D phải mở tờ khai nhập khẩu và đóng VAT nhập khẩu ( VAT đóng này sẽ kê khai khấu trừ lại chứ không phải đóng bỏ đi). Lúc này về câu chuyện tờ khai thì chỉ chuyển từ Cty B sang Cty D thay vì Cty B mở tờ khai xong kê khai khấu trừ lại thì giờ công ty D làm.
- Trường hợp này không phải là chuyển khẩu vì đơn giản hàng hóa vẫn nhập về VN chẳng qua tiện tay thay đổi chủ sở hữu khi hàng đang trên đường về sử dụng và tiêu dùng tại VN mà thôi.
- Công ty A không được áp dụng thuế 0% vì đây không phải là hàng xuất khẩu, do Cty A không mở tờ khai xuất khẩu và hàng của công ty A cũng không phải dử dụng, tiêu dùng ở nước ngoài.
- D không phải chịu 2 lần thuế suất mà chỉ có 1 lần vì thuế gtgt hàng nk nộp xong lại kê khai khấu trừ nên trường hợp này VAT đầu ra - VAT đầu vào = 0 đồng.
 

hochoi

Kế toán tổng hợp
cảm ơn bạn đã cho ý kiến. Mình cũng đồng quan điểm với bạn như vậy, tuy nhiên vừa rồi mình có gửi câu hỏi lên đối thoại doanh nghiệp và được cục thuế trả lời: ở câu 1 thuế đầu vào của bên mình (A) được công ty (B) xuất 0%. (đồng quan điểm)
Còn câu 2 thì như sau (không đồng quan điểm):

Nội dung trả lời:
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định thuế suất thuế GTGT 0% đối với hàng hóa bán mà điểm giao, nhận hàng hoá ở ngoài Việt Nam, cơ sở kinh doanh (bên bán) phải có tài liệu chứng minh việc giao, nhận hàng hóa ở ngoài Việt Nam như:
  • Hợp đồng mua hàng hóa ký với bên bán hàng hoá ở nước ngoài;
  • Hợp đồng bán hàng hoá ký với bên mua hàng;
  • Chứng từ chứng minh hàng hóa được giao, nhận ở ngoài Việt Nam như: hóa đơn thương mại theo thông lệ quốc tế, vận đơn, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận xuất xứ…;
  • Chứng từ thanh toán qua ngân hàng gồm: chứng từ qua ngân hàng của cơ sở kinh doanh thanh toán cho bên bán hàng hóa ở nước ngoài;
  • Chứng từ thanh toán qua ngân hàng của bên mua hàng hóa thanh toán cho cơ sở kinh doanh.
Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty B mua hàng hóa của Công ty A tại Việt Nam sau đó bán hàng hóa cho Công ty D tại Việt Nam nhưng điểm giao nhận hàng hóa đều ở nước ngoài thì Công ty B không đủ điều kiện áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% theo quy định trên.
Nếu Công ty còn vướng mắc, đề nghị Công ty có văn bản kèm Hợp đồng mua hàng hóa của Công ty tại Việt Nam và Hợp đồng bán hàng hóa tại Nước ngoài gửi cơ quan quản lý thuế trực tiếp Công ty.
Trân trọng kính chào./.

Theo như cục thuế trả lời thì đầu ra của bên mình (A) không đủ điều kiện để được tính thuế suất đầu ra 0% cho bên người mua là (D) có lẽ là do không có:
  • Hợp đồng mua hàng hóa ký với bên bán hàng hoá ở nước ngoài (mặt hàng này bên mình mua của công ty (B) là Việt Nam, (B) có hợp mua hàng của (C) là nước ngoài chứ bên mình ko có) ;
  • Chứng từ qua ngân hàng của cơ sở kinh doanh thanh toán cho bên bán hàng hóa ở nước ngoài;

Theo trả lời của cục thuế ở "câu 2" đầu ra của bên mình phải xuất là 10% như vậy bên (D) có thể chịu 2 lần thuế suất đó là bên mình xuất cho họ và khi mặt hàng này được nhập về Việt Nam họ phải đóng thêm 1 lần nữa thuế GTGT hàng nhập khẩu.

Do đó mình thấy không hợp lý trong trường hợp này.
 

TruongNguyen

♥♥♥ ATC ♥♥♥
Thành viên BQT
Trường hợp này của bạn không có gì là khó hiểu:
  • Cty A mua hàng của Cty B ( 2 Công ty này đều có trụ sở và kinh doanh tại Việt nam) -> Công ty B xuất hàng bán cho bạn khi bên B chưa làm thủ tục nhập khẩu (tờ khai và đóng thuế GTGT hàng NK).
  • Đừng quan tâm đến Công ty C vì Công ty B mới phải quan tâm.
  • Cty A bán cho công ty D. Hàng hóa sử dụng và tiêu dùng tại VN thì Cty D phải mở tờ khai nhập khẩu và đóng VAT nhập khẩu ( VAT đóng này sẽ kê khai khấu trừ lại chứ không phải đóng bỏ đi). Lúc này về câu chuyện tờ khai thì chỉ chuyển từ Cty B sang Cty D thay vì Cty B mở tờ khai xong kê khai khấu trừ lại thì giờ công ty D làm.
  • Trường hợp này không phải là chuyển khẩu vì đơn giản hàng hóa vẫn nhập về VN chẳng qua tiện tay thay đổi chủ sở hữu khi hàng đang trên đường về sử dụng và tiêu dùng tại VN mà thôi.
  • Công ty A không được áp dụng thuế 0% vì đây không phải là hàng xuất khẩu, do Cty A không mở tờ khai xuất khẩu và hàng của công ty A cũng không phải dử dụng, tiêu dùng ở nước ngoài.
  • D không phải chịu 2 lần thuế suất mà chỉ có 1 lần vì thuế gtgt hàng nk nộp xong lại kê khai khấu trừ nên trường hợp này VAT đầu ra - VAT đầu vào = 0 đồng.
 

hochoi

Kế toán tổng hợp
Hợp đồng giữa bên mình (A) và (B) quy định điều kiện giao hàng tại nước ngoài (B) mua hàng của (C) là công ty nước ngoài có hợp đồng và thanh toán tiền hàng qua ngân hàng nên (B) đủ điều kiện xuất hoá đơn đầu ra cho bên mình với thuế suất 0%
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định thuế suất thuế GTGT 0% đối với hàng hóa bán mà điểm giao, nhận hàng hoá ở ngoài Việt Nam, cơ sở kinh doanh (bên bán) phải có tài liệu chứng minh việc giao, nhận hàng hóa ở ngoài Việt Nam như:
  • Hợp đồng mua hàng hóa ký với bên bán hàng hoá ở nước ngoài;
  • Hợp đồng bán hàng hoá ký với bên mua hàng;
  • Chứng từ chứng minh hàng hóa được giao, nhận ở ngoài Việt Nam như: hóa đơn thương mại theo thông lệ quốc tế, vận đơn, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận xuất xứ…;
  • Chứng từ thanh toán qua ngân hàng gồm: chứng từ qua ngân hàng của cơ sở kinh doanh thanh toán cho bên bán hàng hóa ở nước ngoài;
  • Chứng từ thanh toán qua ngân hàng của bên mua hàng hóa thanh toán cho cơ sở kinh doanh.
=> Mình ko quan tâm đầu vào của bên mình vì quy định đã rõ ràng. Vấn đề mình còn lăn tăn ở đây là đầu ra của bên mình xuất lại cho (D) thuế suất là KHÔNG CHỊU THUẾ, 0%, hay 10% thì hợp lý. Hợp đồng bên mình (A) ký với (D) điều kiện giao tại nước ngoài và mặt hàng này mua tại nước ngoài chưa được nhập về Việt Nam. Bên mình ko biết (D) có nhập hàng về Việt Nam hay bán lại cho bên khác sử dụng tại nước ngoài.
Giả sử (D) có nhập hàng về Việt Nam bên mình đã xuất hoá đơn cho (D) thuế suất là 10% khi làm thủ tục nhập khẩu họ lại phải đóng thêm tiền thuế GTGT hàng nhập khẩu của mặt hàng này là 10% nữa vậy chi là một lần mua nhưng đóng 2 lần tiền thuế GTGT => vô lý.
Do câu trả lời của cục Thuế còn "bỏ ngõ" nên mình ko biết làm như nào là chính xác theo quy định.
 

TruongNguyen

♥♥♥ ATC ♥♥♥
Thành viên BQT
Hợp đồng giữa bên mình (A) và (B) quy định điều kiện giao hàng tại nước ngoài (B) mua hàng của (C) là công ty nước ngoài có hợp đồng và thanh toán tiền hàng qua ngân hàng nên (B) đủ điều kiện xuất hoá đơn đầu ra cho bên mình với thuế suất 0%
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định thuế suất thuế GTGT 0% đối với hàng hóa bán mà điểm giao, nhận hàng hoá ở ngoài Việt Nam, cơ sở kinh doanh (bên bán) phải có tài liệu chứng minh việc giao, nhận hàng hóa ở ngoài Việt Nam như:
  • Hợp đồng mua hàng hóa ký với bên bán hàng hoá ở nước ngoài;
  • Hợp đồng bán hàng hoá ký với bên mua hàng;
  • Chứng từ chứng minh hàng hóa được giao, nhận ở ngoài Việt Nam như: hóa đơn thương mại theo thông lệ quốc tế, vận đơn, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận xuất xứ…;
  • Chứng từ thanh toán qua ngân hàng gồm: chứng từ qua ngân hàng của cơ sở kinh doanh thanh toán cho bên bán hàng hóa ở nước ngoài;
  • Chứng từ thanh toán qua ngân hàng của bên mua hàng hóa thanh toán cho cơ sở kinh doanh.
=> Mình ko quan tâm đầu vào của bên mình vì quy định đã rõ ràng. Vấn đề mình còn lăn tăn ở đây là đầu ra của bên mình xuất lại cho (D) thuế suất là KHÔNG CHỊU THUẾ, 0%, hay 10% thì hợp lý. Hợp đồng bên mình (A) ký với (D) điều kiện giao tại nước ngoài và mặt hàng này mua tại nước ngoài chưa được nhập về Việt Nam. Bên mình ko biết (D) có nhập hàng về Việt Nam hay bán lại cho bên khác sử dụng tại nước ngoài.
Giả sử (D) có nhập hàng về Việt Nam bên mình đã xuất hoá đơn cho (D) thuế suất là 10% khi làm thủ tục nhập khẩu họ lại phải đóng thêm tiền thuế GTGT hàng nhập khẩu của mặt hàng này là 10% nữa vậy chi là một lần mua nhưng đóng 2 lần tiền thuế GTGT => vô lý.
Do câu trả lời của cục Thuế còn "bỏ ngõ" nên mình ko biết làm như nào là chính xác theo quy định.
khi D nhập về nộp 10% vat hàng ngập khẩu và sau đó kê khai khấu trừ 10% đó thì bản chất chỗ này D ko mất đồng nào cả, không có gì vô lý ở đây. Em đặt tình huống làm kế toán luôn cho A và D là thấy vấn đề ngay
 

hochoi

Kế toán tổng hợp
khi D nhập về nộp 10% vat hàng ngập khẩu và sau đó kê khai khấu trừ 10% đó thì bản chất chỗ này D ko mất đồng nào cả, không có gì vô lý ở đây. Em đặt tình huống làm kế toán luôn cho A và D là thấy vấn đề ngay
Khi D mua hàng của bên A, nếu A đã xuất hoá đơn cho D thuế suất là 10%. Khi D làm thủ tục nhập khẩu mặt hàng này về VN đóng thêm 10% thuế GTGT hàng nhập khẩu nữa => vậy chi là "thuế chồng thuế". Bản chất của thuế GTGT là được khấu trừ tuy nhiên anh phải ứng trước 1 khoản tiền ra để nộp thuế. Xét về khía cạnh kinh doanh vốn bị chiếm dụng đó anh.
 

TruongNguyen

♥♥♥ ATC ♥♥♥
Thành viên BQT
Phải nói là A quá khôn khi đẩy trách nhiệm đó cho D, dòng tiền nó không tự sinh ra và mất đi, nó chuyển từ A sang D, đáng lẽ A phải làm thủ tục thì A giao luôn ở nước ngoài cho D để D đi mà tự bỏ tiền nộp thuế. Cty em là Cty A nên quá khôn, còn Nhà nước ở đây thì dù A hay D làm thủ tục nhập khẩu là như nhau vì nghĩa vụ không thay đổi, có khi còn thiệt hơn vì đáng lẽ được thu trước khi cty A mở tờ khai, nay nó giao lòng vòng bên nước ngoài mãi 2 tháng sau mới mở tờ khai và nộp thuế vào ngân sách. Như vậy nếu anh là cơ quan thuế thì A quá củ chuối luôn!
 

hochoi

Kế toán tổng hợp
Phải nói là A quá khôn khi đẩy trách nhiệm đó cho D, dòng tiền nó không tự sinh ra và mất đi, nó chuyển từ A sang D, đáng lẽ A phải làm thủ tục thì A giao luôn ở nước ngoài cho D để D đi mà tự bỏ tiền nộp thuế. Cty em là Cty A nên quá khôn, còn Nhà nước ở đây thì dù A hay D làm thủ tục nhập khẩu là như nhau vì nghĩa vụ không thay đổi, có khi còn thiệt hơn vì đáng lẽ được thu trước khi cty A mở tờ khai, nay nó giao lòng vòng bên nước ngoài mãi 2 tháng sau mới mở tờ khai và nộp thuế vào ngân sách. Như vậy nếu anh là cơ quan thuế thì A quá củ chuối luôn!
Anh nói thế thì oanh cho Công ty em lắm ạ! :D
 
Tuyển dụng kế toán - Cộng Đồng Kế Toán Việt Nam
Top